Làm việc ở Hàn Quốc thấy như thế nào? Thay vào câu trả lời là vỡ òa ” Nước mắt”

180

“Làm việc ở Hàn Quốc thấy như thế nào?” Thay vào câu trả lời là vỡ òa “ Nước mắt” (“한국에서 일 해보니 어때요?”…대답 대신 터진 ‘눈물’)

“Làm việc ở Hàn Quốc thấy như thế nào ?” (“한국에서 일 해보니 어때요?”)

Bây giờ chỉ bằng một câu hỏi thông thường này, đã làm thay đổi biểu hiện của Mona (Tên giả), người nước ngoài đã bước vào năm thứ 5 của cuộc sống ở Hàn Quốc . Vỡ òa khóc cùng với những giọt nước mắt cũng không dễ dàng gì có thể nguôi ngoai. (이 평범한 질문에 이제 한국 생활 5년 차에 접어든 모나(가명)씨 표정은 달라졌습니다. 눈물과 함께 터진 울음은 쉽게 잦아들지 않았습니다.)

“50 giờ một tháng làm việc miễn phí” … ‘Nước mắt’ của người lao động nhập cư ở nông trại. (“매달 50시간은 공짜 노동”…농장 이주노동자들의 ‘눈물’)

■ Một tháng nghỉ lễ 2 ngày , cho dù làm việc 262 giờ thì tiền lương hàng tháng chỉ là 1,21 triệu won. (휴일은 한 달에 이틀, 262시간 일하고도 월 급여는 121만 원)

Mona, người đã từng học đại học ở Campuchia, đã đến Hàn Quốc vào tháng 5/2015. Cũng do một phần hoàn cảnh cá nhân mà trong đó cô phải kiếm tiền học phí cho 2 người em , nhưng đó cũng một phần là vì có khao khát đến một đất nước khác mà bất cứ ai ở độ tuổi 20 đều sẽ có. (캄보디아에서 대학을 다니던 모나 씨는 2015년 5월 한국에 왔습니다. 두 동생 학비를 벌어야 하는 개인적인 사정도 있었지만, 20대 청년 누구나 가질 만한 다른 나라에 대한 동경 때문이었습니다.)

Nơi làm việc của Mona tại Hàn Quốc là một trang trại nhà kính ở thành phố Yeoju, tỉnh Gyeonggi. Cô đã trồng nhiều loại cây trồng bao gồm bí ngô, dưa chuột, ớt đỏ và rau diếp trong gần bốn năm. (한국에 온 모나 씨의 일터는 경기도 여주시에 있는 비닐하우스 농장. 만 4년 가까이 호박, 오이, 고추, 상추 등 다양한 작물을 재배했습니다.)

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa khát khao về Hàn Quốc và hiện thực rất khác nhau . Một tháng chỉ có 2 ngày nghỉ, cô đã làm việc trung bình trên 262 giờ một tháng. (하지만 한국에 대한 동경과 현실은 달랐습니다. 휴일은 한 달에 단 이틀, 한 달 평균 무려 262시간을 일했습니다.)

Công việc cũng vật và nhưng hơn hết, cô không thể nhận được thù lao theo một cách đúng đắn, và đó là nỗi khổ lớn nhất của Mona . (근무도 고됐지만, 무엇보다 노동에 대한 대가를 제대로 받지 못하는 게 모나 씨에겐 큰 고통이었습니다.)

■ Làm thêm 2 tiếng mỗi ngày nhưng không giống như hợp đồng … Cô không được nhận tiền trợ cấp 500.000 won hàng tháng. (■ 계약서 달리 매일 2시간 추가 근로…월 50만 원 수당은 못 받아)

Giờ làm việc của Mona là từ 7:00 sáng đến 4:00 chiều trên hợp đồng lao động. Nhưng giờ làm việc thực tế khác với hợp đồng. Công việc kết thúc lúc 6 giờ chiều mà không phải lúc 4 giờ chiều. Cô làm việc thêm 2 giờ mỗi ngày. (근로계약서 상 모나 씨의 근무시간은 ‘아침 7시부터 오후 4시’. 하지만 실제 근무시간은 계약서와 달랐습니다. 근무는 오후 4시가 아니라 오후 6시에 끝났습니다. 매일 2시간씩 추가 근무를 한 겁니다.)

Tuy nhiên, cô đã không nhận được tiền trợ cấp cho 2 giờ làm thêm đó. Phụ cấp làm thêm của Mona là khoảng 500.000 won mỗi tháng. Nếu gộp 46 tháng, sẽ đạt đến 21 triệu won. (그런데 2시간 추가 근무 대한 수당은 받지 못했습니다. 모나 씨의 추가 근로수당은 월평균 약 50만 원. 46개월 동안 합치면 2천130만 원에 달합니다.)

Nếu xem xét tiền lương trung bình hàng tháng của Mona là 1,12 triệu won, thì đối với Mona, đó là một khoản tiền rất lớn. (모나 씨의 평균 월급이 121만 원이란 점을 고려하면, 모나 씨에게는 매우 큰 액수입니다.)

■ “Nhà kính ở đây, tất cả mọi người đều phải làm việc thêm 2 giờ mỗi ngày” (■ “여기 하우스는 다 2시간씩 더 일해”)

Mona quyết định lấy can đảm hỏi chủ Nông trại, “Tại sao tôi phải làm việc thêm 2 giờ mỗi ngày?” (모나 씨가 용기를 내 농장주에게 ‘매일 2시간 더 일하는 이유’를 물어봤습니다.)

Sau đó, người chủ nông trại trả lời: “Mọi người ở đây (Nhà kính ) đều làm thêm hai giờ làm việc.” Mona không chấp nhận, ông ta giải thích: ” Đấy là tiền khấu trừ 300.000 won đến 350.000 won tiền lương của cô vào phí nhà ở.” (그러자 농장주는 “여기 (비닐) 하우스는 전부 다 2시간씩 일을 더 해”라고 답했습니다. 모나 씨가 수긍하지 않자 “월급에서 너 숙박비로 30~35만 원 씩 떼는 거야”라고 설명했습니다.)

Trong hợp đồng lao động tiêu chuẩn, chi phí ăn ở được ghi là được dựa vào “Bàn bạc” giữa người sử dụng lao động và người lao động. Nhưng không hề có “Bàn bạc”. Chỉ có thông báo một chiều của người chủ nông trại là sẽ khấu trừ bao nhiêu. Hơn nữa, không thể tìm được chỗ ở khác ở ngoài khu vực nông trại này. (표준근로계약서에 숙박비는 사업주와 근로자 간 ‘협의’에 의한다고 적혀 있습니다. 하지만 ‘협의’는 없었습니다. 농장주가 얼마를 공제할지 일방적인 통보만 있을 뿐이었습니다. 더구나 외진 농촌에서 다른 숙소를 구하는 건 불가능했습니다.)

Trên hết, nông dân cho biết họ sẽ khấu trừ 30 ~ 350 nghìn won mỗi tháng, nhưng vẫn ít hơn số tiền ông ta không chi trả hàng tháng là 500.000 won. (무엇보다 농장주는 매달 30~35만 원을 공제한다고 했지만, 미지급한 금액은 이보다 많은 50만 원이었습니다.)

Thế nhưng, chỗ ở loại ‘300.000 won mỗi tháng được cung cấp bởi người người chủ nông trại chỉ là một căn nhà tạm bất hợp pháp được làm bằng thùng container. Căn nhà tạm đó không thể ngăn được cái lạnh vào mùa đông, và phải khổ sở trong cái nóng vào mùa hè. (그런데 농장주가 제공한 ‘월 30만 원짜리’ 숙소는 컨테이너로 만든 불법 가건물이었습니다. 겨울엔 한파를 막지 못했고, 여름엔 폭염에 시달려야 했습니다.)

■ “Tiền lương khác với mức độ và công sức làm việc ” … Khi nói lại thì ‘bị sa thải’ (■ “일한 만큼 임금을 달라”…돌아온 건 ‘해고’)

Chỉ một câu nói rất bình thường của Mona, kết cục cô bị chủ đuổi việc khỏi nông trại. Nếu trong vòng 2 tháng cô không thể tìm được chỗ làm mới, cô sẽ bị xử lý như một người cư trú bất hợp pháp. (이 상식적인 말을 꺼낸 모나 씨는 결국 농장에서 해고를 당했다고 합니다. 두 달 안에 새 일터를 구하지 못하면 불법 체류자로 내몰릴 처지입니다.)

So với ngành công nghiệp sản xuất nơi nhiều công nhân nhập cư làm việc, nông nghiệp là điểm mù trong việc giám sát lao động ở Hàn Quốc. Các trang trại chủ yếu nằm ở vùng sâu vùng xa, và có khoảng 5 công nhân nước ngoài làm việc. Ngay cả khi họ bị đối xử bất công, rất khó để xử lý một cách có hệ thống. (다수의 이주 노동자가 근무하는 제조업에 비해 농업은 근로 감독의 사각지대로 꼽힙니다. 농장이 주로 외진 곳에 있고, 고용된 외국인 근로자도 5명 정도라 부당한 대우를 받아도 조직적인 대응이 어렵기 때문입니다.)

Đặc biệt, ngay cả khi không nhận được trợ cấp giờ làm thêm và người lao động báo lên bộ lao động Hàn Quốc, nếu chủ trang trại khăng khăng chỉ sai họ làm 8 tiếng một ngày thì cũng không dễ gì lật lại được. Vì ở trong nông trại, không hề có sổ sao lưu việc ra vào và cũng không có camera giám sát. Do vậy, cho dù người lao động có ghi riêng mấy giờ vào làm, và làm đến mấy giờ, thì nếu chủ lao động phản bác là họ nói sai sự thật, thì cũng không có chứng cớ để đối chiếu. (특히 추가 근로수당을 받지 못해 관할 노동청에 신고해도 농장주가 8시 밖에 일을 안 시켰다고 우기면 이를 뒤집기란 쉽지 않습니다. 농장에는 출입 기록대장이나 그 흔한 CCTV도 없기 때문입니다. 근로자가 매일 몇 시부터 몇 시까지 일했는지 따로 기록해 둬도 농장주가 사실과 다르다고 반박하면 증거로 인정되지 않습니다.)

Hơn nữa, các doanh nghiệp như nông nghiệp, lâm nghiệp, tơ lụa và thủy sản ở Hàn Quốc không hề áp dụng “Đạo luật tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc” Ngày lễ & ngày nghỉ. Mona đã làm việc 262 giờ trên một tháng, làm một công việc ngang với tự sát. (더구나 농림·축산·양잠·수산 사업은 ‘근로기준법’에 따른 휴게·휴일 규정에 적용받지 않습니다. 모나 씨가 한 달에 262시간이라는 살인적인 노동을 일한 이유기도 합니다.)

49.000 công nhân nhập cư làm nông nghiệp và ngư nghiệp ở Hàn Quốc …

‘Điểm mù’ trong giám sát lao động ở Hàn Quốc. ( 농립어업 종사 이주 노동자 4만 9천 명…근로 감독 ‘사각지대’)

Tính đến tháng 5 năm 2018, có 49.500 lao động nước ngoài làm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp tại Hàn Quốc. (한국에서 농림과 어업 분야에 종사하는 외국인 근로자는 2018년 5월 기준 4만 9천 5백여 명 입니다.)

Điều bắt buộc là phải tăng cường giám sát và cải thiện hệ thống để một số lượng lớn người lao động như Mona có thể được đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động và nhận được ‘ Thù lao tương xứng với công sức của họ’. (수많은 모나들이 ‘일한 만큼 임금을 받는’ 노동자의 기본 권리를 보장받을 수 있도록 관리 감독 강화와 제도 개선이 시급합니다.)