Khủng hoảng của phụ nữ nhập cư đến Hàn Quốc … “10 người thì 4 người từng trải qua bạo lực gia đình”

133

Khủng hoảng của phụ nữ nhập cư đến Hàn Quốc … “10 người thì 4 người từng trải qua bạo lực gia đình” (위기의 이주여성…”10명 중 4명 가정폭력 경험”)

[앵커]

Lệnh bắt giữ đã được ban hành cho một người đàn ông Hàn Quốc ở độ tuổi 50 đã giết và giấu xác một người vợ Việt Nam vừa đến Hàn Quốc mới chỉ trong ba tháng. (한국에 온지 3개월밖에 되지 않은 베트남 아내를 살해·암매장한 50대 남성의 구속영장이 발부됐습니다. )

Một điều khá bất ngờ là hiện nay là trong 10 phụ nữ nước ngoài đã kết hôn và chuyển đến Hàn Quốc thì có 4 người phải chịu khổ sở vì bạo lực gia đình. (결혼해 한국으로 이주한 여성 10명 중 4명은 폭력에 시달리고 있는 것으로 드러나 충격을 주고 있습니다. )

Phóng viên Cho Han-dae. (조한대 기자입니다.)

[기자]

Tòa án quận Uijeongbu đã ban hành lệnh bắt giữ người chồng A với tội danh giết vợ và giấu xác. (의정부지법은 베트남 아내 살해와 시신유기 혐의로 남편 A씨의 구속영장을 발부했습니다.)

Ông A đâm vợ bằng hung khí tại nhà riêng ở thành phố Yangju và chôn xác ở vùng rừng núi ở quê nhà mình. (A씨는 양주시의 자택에서 아내를 흉기로 찌르고 자신의 고향 임야에 시신을 묻었습니다.)

Vào tháng 7, một người đàn ông Hàn Quốc khác là ông B đã bị bắt tại Yeongam, tỉnh Nam Jeolla, vì đã đánh người vợ người Việt Nam bằng nắm đấm, bàn chân và chai soju gây thương tích phải điều trị hơn 4 tuần. (지난 7월 전남 영암군에서는 베트남 아내를 주먹과 발, 소주병으로 때려 전치 4주 이상의 부상을 입힌 혐의로 B씨가 붙잡히기도 했습니다.)

Những chỉ trích đưa ra rằng, những người phụ nữ nước ngoài kết hôn và nhập cư vào Hàn Quốc đang được đặt trong một điểm mù của tội phạm ở Hàn Quốc. (결혼해 한국으로 이주한 여성들이 범죄의 사각지대에 놓여 있다는 지적은 어제 오늘의 이야기가 아닙니다.)

Ủy ban Nhân quyền Quốc gia gần đây đã công bố một cuộc khảo sát cho thấy bốn trong số mười phụ nữ di cư đến Hàn Quốc đã trải qua bạo lực gia đình. (최근 국가인권위는 결혼이주여성의 10명중 네 명은 “가정폭력을 경험했다”는 설문조사 결과를 발표했습니다.)

Lý do họ không yêu cầu giúp đỡ khi gặp phải bạo lực là vì thật xấu hổ khi mọi người xung quanh biết được chuyện gia đình mình, hoặc không biết phải nhờ ai giúp đỡ, hoặc họ nghĩ rằng dù có yêu cầu được giúp đỡ cũng không có kết quả. (폭력에도 도움을 요청하지 않은 이유는 주변에 알려지는 것이 창피해서, 누구에게 도움을 요청해야할 지몰라서 아무 효과도 없을 것 같아서 등으로 나타났습니다.)

[Giáo sư Lee Jin-hye / Giám đốc của Trung tâm dân nhập cư ” Người Bạn” ] ” Hiện nay chúng tôi đang tích cực hỗ trợ và tạo ra một môi trường, không khí
để người nhập cư đến Hàn Quốc có thể tiếp cận được với trung tâm đa văn hóa… Và cũng có các chuyên gia có thể đưa ra các lời khuyên nhanh chóng khi họ có vấn đề cần giúp đỡ… ([이진혜 변호사 / 이주민센터 ‘친구’ 사무국장] “한국에 입국을 했을 때 다문화가족지원센터에 접근할 수 있는 분위기와 환경을 국가가 적극적으로 지원을 해주고…문제가 발생했을 때 조언을 빨리 해줄 수 있는 법적 전문가(지원도)…”)

Phụ nữ di cư đến vùng đất xa lạ là Hàn Quốc, ngay cả khi bị dính vào bạo lực gia đình, họ cũng bị rơi vào hoàn cảnh là không thể ly hôn một cách dễ dàng. (남편을 보고 이국땅에 건너온 이주 여성들은 가정폭력에 내몰려도 선뜻 이혼을 고려할 수 없는 상황.)

Các chuyên gia khuyên tôi nên thiết kế một mạng lưới an toàn xã hội tốt hơn cho phụ nữ di cư và sửa đổi hệ thống pháp luật hiện tại, hiện nay tình trạng cư trú hoặc quốc tịch hầu như đều phụ thuộc vào nam giới là người chồng. (전문가들은 이주 여성을 위한 사회 안전망을 좀 더 꼼꼼히 설계하고 체류 자격이나 국적 취득이 사실상 남성에게 종속된 현행 법 제도를 손봐야 한다고 조언했습니다.)

연합뉴스TV 조한대입니다. (onepunch@yna.co.kr)